Các biện pháp chống dịch ở Việt nam trong thời gian qua dưới góc nhìn của “Chủ nghĩa dữ liệu” – Yuval Noah Harari [phần 1]

L. Q. Vinh

Sài-gòn, 04.09.21.

Cấu trúc phần 1:

0. Mở đầu – Phần này lời lẽ chua ngoa, cân nhắc trước khi đọc, nội dung chính là các quy tắc tranh biện do tôi đặt ra.
1. Sơ lược một số hệ thống tư tưởng về “Con người”

0. Mở đầu:

Bài viết này tôi sẽ lấy các thông tin và số liệu trên các kênh đã kiểm chứng. Qua đó, tôi nhận ra rằng, mình cũng nên nhìn nhận một số mặt “tích cực” và học hỏi chứ. Và sau đây, ơn Đảng, ơn Nhà nước, ơn Các cơ quan phòng chống dịch, tôi xin phép được dùng một số công cụ sắt bén như là các biện pháp tu từ, ẩn dụ,… mà các vị đã dùng trong “chống dịch”.

0.1. Hô khẩu hiệu:

Tôi từng khá dị ứng với việc hô khẩu hiệu, nhưng phương pháp này đã từng được sử dụng thành công nhất ở thời Aldof Hitler(1) – lãnh đạo Đức Quốc Xã. Sau đây là một số khẩu hiệu của tôi trong việc bày tỏ quan điểm:

  • “Không phải ‘ba que‘ nhưng kinh tởm ‘ba phải‘”. (hô 3 lần)
  • “Thích thú ‘đê mê‘, ghê tởm ‘đê hèn‘”. (hô 3 lần vào mặt người “hèn“)
  • Phản biện, không ngụy biện“. (hô 3 lần + niệm Nam mô Văn Thù Bồ Tát(2) (Vị Bồ Tát phụ trách trí não))
  • “Thà ‘tiêu cực‘ còn hơn ‘dã man‘”. (hô 3 lần – khẩu hiệu của tinh thần nhân đạo – hô vào mặt người “tích cực“).
0.2. Phát động phong trào thi đua:

Cũng qua đây, tôi xin phép được phát động một phong trào thi đua trong việc tranh luận mang tên:

  • “Ai đu càng, tôi không đu càng“.
  • “30 ngày mơ về ‘tự do‘ chứ không mơ về ‘xứ tự do‘”.
  • Và trên hết là phong trào thi đua:phản biện góp phần tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn“.

Bằng cách tôn trọng và đồng ý tất cả “tinh thần” và “khẩu hiệu” đó, chúng ta cùng nhau bước qua nội dung chính của bài viết này. Bắt đầu từ đây trở đi, toàn bộ nội dung được xây dựng dựa trên lý thuyết “Chủ nghĩa dữ liệu” do GS. Yuval Noah Harari(3) đề cập trong cuốn Lược sử tương lai(4) và được diễn giải lại theo sự hiểu biết của người viết bài này trên tinh thần tôn trọng nguyên bản “Chủ nghĩa dữ liệu”.

1. Sơ lược một số hệ tư tưởng về “Con người”:

1.1. ‘Hợp tác số đông’ là chìa khóa của sự thống trị của loài người:

Với tất cả những yếu tố di truyền về kiểu hình, loài người chỉ là một sinh vật trung bình yếu trong sinh giới. Tuy nhiên, như Bác Hồ của chúng ta đã nói “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công” nhằm đề cao sức mạnh của việc ‘hợp tác ở quy mô cộng đồng’ mà các loài khác không thể thực hiện được. Điều đó đã đưa loài người vươn lên đứng đầu chuỗi thức ăn chỉ trong một thời gian ngắn.

1.2. ‘Bịa đặt’ là chìa khóa của sự hợp tác:

Tiêu đề có thể gây sốc, tuy nhiên ta sẽ làm rõ ngay sau đây lý do tại sao tôi dùng từ ‘bịa đặt’ trong trường hợp này.

Xét về mặt di truyền, bộ gene của loài người cho phép chúng ta hợp tác “bầy đàn” với số lượng không quá 150 người (hình như là gần đầy 1 phòng Zoom không mua bản quyền). Nếu một bầy người lớn hơn, sẽ gây hiện tượng tách bầy vì cạnh tranh các yếu tố để sinh tồn như bao loài động vật khác.

GS. Will Durant(5), tác giả của bộ sách nổi tiếng về lịch sử ‘The lesson of History’ cũng chia sẻ quan điểm này trong bài giảng ‘Nguồn gốc văn minh’(6). Ông đã dùng hai thuật ngữ ‘loài người dã man‘ và ‘loài người văn minh’ cho con người ở hai thời kỳ tương ứng lần lượt trước và sau, mà GS. Y. N. Harari đã gọi tên, ‘Cuộc cách mạng nhận thức của loài người’.

Chúng ta tổng hợp một số quan điểm về tính chất của loài người sau ‘Cách mạng nhận thức’ dựa trên quan điểm của GS. Y. N. Harari và GS. W. Durant qua đoạn trích sau:

“Xét chung thì văn minh chủ yếu là sự sáng tạo văn hóa nhờ một trật tự xã hội gây ra kích thích. Nó gồm bốn yếu tố căn bản:

.Sự phòng xa về kinh tế;
.Sự tổ chức chính trị;
.[Sự đề cao] những truyền thống luân lí;
.Sự tăng tiến tri thức và phát triển nghệ thuật.
.Chỉ khi nào không còn sự hỗ độn, sự bất an nữa thì văn minh mới phát triển được.”

(W. Durant, Nguồn gốc văn minh, Nguyễn Hiến Lê dịch, NXB Hồng Đức, 2018)

Qua việc tổng hợp và liên kết hai quan điểm này, chúng ta có thể thấy, các chìa khóa của sự ‘hợp tác ở quy mô cộng đồng’ như đã đề cập trong đoạn trích hoàn toàn là những thứ nằm ngoài sự quy định trong kiểu gene và kiểu hình. Nó đòi hỏi một sự giải quyết theo hướng “phi tự nhiên” theo nghĩa “sáng tạo”.

Do đó, để hợp tác được ở ‘quy mô cộng đồng’, loài người phải chia sẻ với nhau cùng một ‘hệ tư tưởng’, và tất nhiên, đó là sự ‘bịa đặt’. Nói một cách khác, loài người chia sẻ cùng một ‘lòng tin’, đặt tên cho từng hiện tượng trong tự nhiên và bắt đầu gán cho nó một ‘ý nghĩa’, ‘ý nghĩa’ đó lại phải phù hợp với ‘hệ tư tưởng’ của cộng đồng đó. Đây chính là bước ngoặt của cuộc ‘Cách mạng nhận thức’.

Chúng ta có thể thấy, điều này giải thích nguyên nhân của sự ‘chia rẽ’ trong nhân dân khi mỗi nhóm cộng đồng lại chia sẻ các ‘hệ tư tưởng’ khác nhau trong suốt quá trình lịch sử của loài người, thậm chí, ngay cả trong thời kì dịch bệnh này.

Xét trên quan điểm này, GS. Y. N. Harari cho rằng ‘tôn giáo’, ‘nhà nước’, ‘quốc gia’, ‘dân tộc’, ‘triết học’, ‘chính trị’, ‘đạo đức’, ‘tiền tệ’, ‘kinh tế thị trường’, ‘xã hội chủ nghĩa’, ‘chứng khoán’… đều là các hiện tượng ‘bịa đặt’ nhằm mục đích hợp tác ở quy mô cộng đồng. Ví dụ, những người sống ở Việt Nam sẽ cùng chia sẻ những hệ tư tưởng chung như ‘công dân Việt Nam’, ‘con rồng cháu tiên’, ‘Âu Cơ, Lạc Long Quân’ nhằm mục đích hợp tác ở quy mô Quốc gia.

1.3. Ba ‘hệ tư tưởng’ lớn trong lịch sử loài người:

Tôi sẽ tiếp cận mục này dựa trên việc định nghĩa thế nào là ‘chân lí‘ qua một số giai đoạn chính của xã hội loài người.

1.3.1. Thời kì cách mạng tôn giáo:

Ở thời kỳ giai cấp tăng lữ tôn giáo có nhiều quyền hành trong xã hội, chúng ta có “phương trình tri thức” quy định thế nào là ‘chân lý’ hay tính đúng/sai như sau:

Tri thức (chân lý) = Kinh Thánh x Tư duy logic

(1.3.1)

Ở phương trình (1.3.1) chúng ta thấy sự xuất hiện của hai thừa số là “Kinh thánh”“Tư duy logic”, tri thức được định nghĩa là tích của chúng. Sở dĩ tồn tại dấu nhân (x) là bởi vì chỉ cần một cái bằng 0 thì tri thức được xem là sai. Tôi lấy ví dụ, có một đoạn Kinh Thánh như sau “hãy cầm rìa của Trái đất và giũ sạch bọn bất lương ra ngoài”. Áp dụng phương trình (1.3.1) chúng ta sẽ có được chân lý như sau: “Trái đất”“rìa” thì nó phải là hình phẳng (sự can thiệp của tư duy logic dựa trên Kinh Thánh) do đó ta suy ra Trái đất phẳng!

Và trong suốt thời kỳ mà giới tăng lữ nắm quyền, các quan sát về vũ trụ cho kết quả khác với hệ thống Kinh sách sẽ bị xem là sai kiến thức, đáng bị xử tử. Vì Kinh Thánh là bất khả xâm phạm.

1.3.2. Thời kì cách mạng khoa học kỹ thuật:

Xét lại quan điểm của GS. W. Durant về bốn tiêu chí của văn minh còn người, ta có thể suy ra được hệ tư tưởng của cuộc Cách mạng Tôn giáo sớm muộn sẽ bị thay thế vì ngày càng có nhiều minh chứng cho thấy nó không hợp lý. Các cuộc Cách mạng Khoa học Kỹ thuật đã thay đổi nhận thức của con người về tri thức như sau:

Tri thức = Dữ liệu thực nghiệm x Toán học

(1.3.2)

Chúng ta nhìn thấy có một sự thay thế mang tính cách mạng ở đây đó là sự biến mất của “Kinh thánh” trong việc định nghĩa chân lý. Điều đó đồng nghĩa với việc vị trí chính trị của giới tăng lữ tôn giáo trong xã hội loài người đã bị giảm sút, nếu không muốn nói là bị hạ bệ bởi một tầng lớp khác có sự ảnh hưởng hơn: Các nhà khoa học thực nghiệm.

Đó là thời kỳ mà loài người chúng ta đề cao khoa học thực nghiệm kết hợp với các phân tích Toán học để đưa đến sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật. Phương trình trên cũng được viết dưới dạng tích, nghĩa là chỉ cần một trong hai thừa số bằng không thì tích sẽ bằng không!

Cuộc cách mạng Khoa học – Công nghệ còn tiếp diễn cho đến ngày nay, ta gọi đó là Cách mạng Khoa học – Công nghệ lần thứ 4 hay 4.0 (chỗ này cũng nguy hiểm, với người hiểu biết thì nó là dấu “chấm”, với người kém hiểu biết thì nó là dấu “nhân”).

Đây cũng là lý do vì sao mà vai trò của môn Toán là cực kỳ quan trọng miễn là chúng ta còn đang phụ thuộc vào Khoa học – Kỹ thuật.

1.3.3. Cuộc ‘cách mạng nhân văn’:
Bản tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp.

Khi một xã hội được tự do hơn về tư tưởng do hệ quả của cuộc cách mạng Khoa học – Kỹ thuật, con người bắt đầu được đề cao hơn. Năm 1789, cách mạng tư sản Pháp thành công và nước Pháp thông qua bản Tuyên ngôn “Nhân quyền và Dân quyền” (human rights).

Đây là một phát minh về mặt nhận thức của con người và là lần đầu tiên con người đề cao vai trò và quyền lợi của từng cá nhân một cách công bằng. Sở dĩ tôi gọi đó là “cách mạng” vì tuyên ngôn này đưa đến một nhận thức hoàn toàn mới về “con người” và điều đó đã làm thay đổi hoàn toàn cách con người đối xử với nhau về cả phương diện Đạo đức và (ý chí) Chính trị.

Ở thời kỳ này, tri thức được tái định nghĩa bằng cách kết hợp phương trình (1.3.2) ở trên với phương trình dưới đây tạo nên “hệ phương trình tri thức” như sau:

Tri thức = Trải nghiệm x Sự nhạy cảm

(1.3.3)

Chúng ta nhận xét sự chuyển biến này từ phương trình (1.3.2) đến (1.3.3) như sau:

  • Đây là một sự bổ sung, không phải sự thay thế như từ (1.3.1) đến (1.3.2).
  • Sự bổ sung này là cần thiết để những phát minh khoa học hướng đến việc phục vụ con người.
  • Nếu Quý vị là giáo viên, đang đọc bài viết này của tôi thì quý vị sẽ thấy sự chuyển biến trong “phương pháp giáo dục” từ “truyền thụ kiến thức” (đề cao tính khoa học và logic Toán học) sang “giáo dục lấy con người (học sinh) làm trung tâm” (đề cao quyền con người thông qua tôn trọng trải nghiệm cá nhân và sự nhạy cảm của từng cá nhân).

Cho đến thời điểm này, chưa có một hệ tư tưởng nào mới hơn đủ sức thay thế tư tưởng “Nhân quyền và dân quyền” ra đời năm 1789 – Hệ quả của cuộc Cách mạng Tư sản Pháp.

Nói như thế để thấy rằng, chúng ta cần tìm hiểu kỹ về phương thức vận hành của xã hội và tri thức loài người để có cái nhìn một cách chính xác, khách quan, phù hợp với những vấn đề chúng ta bàn luận.

Tôi xin kết thúc phần 1 của bài viết ở đây. Mục tiêu chính của phần 1 này là cơ sở lý luận của tôi cho các phần tiếp theo. Tôi sẽ rút ra các kết luận dựa trên phương trình (1.3.2)(1.3.3). Do đó, mọi sự tranh cãi của quý vị vui lòng tôn trọng các tiêu chí mà tôi đã phân tích trên đây.

Các phần tiếp theo của bài viết sẽ đề cập đến “Chủ nghĩa dữ liệu” và áp dụng nó vào việc giải thích một số vấn đề thực tiễn trong lịch sử cũng như trong cách phòng chống dịch ở Việt Nam ta. Tuy nhiên, tôi cũng không mong đợi nhiều, vì đôi khi khả năng phân biệt “đúng”, “sai” của một số nhân vật, thậm chí là học cao, cũng như một dạng năng khiếu. Mà đã là năng khiếu thì không dạy được.Cảm ơn Quý vị đã đọc đến đây. Vô cùng trân trọng sự kiên nhẫn của Quý vị.

Trân trọng,
L. Q. Vinh

Chú giải và Tài liệu tham khảo:

  1. Adolf Hitler.
  2. Văn Thù Bồ Tát.
  3. Yuval Noah Harari.
  4. Yuval Noah Harari – Lược sử tương lai.
  5. Will Durant.
  6. Will Durant – Nguồn gốc văn minh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.